.:.BẢNG CHÚ GIẢI CỦA MOMO.:.


♥•BẢNG CHÚ GIẢI CỦA MOMO•♥

Trước tiên, cái gì gọi là bảng chú giải của Momo? Rất đơn giản, đó là bảng chú giải do Momo lập ah^^~
*bên dưới ném đá ầm ầm*
Ôi, được rồi, vào chủ đề. Hôm nay ngày XX tháng XX năm XXXX, bạn Momo rảnh trời rỗi đời không có việc gì làm, thuận tiện muốn lập ra cái bảng chú giải. Lí do, đơn giản là vì khi edit truyện, đôi khi có những thành ngữ hoặc một số từ ngữ đặc biệt mình không nhớ, ko rõ nghĩa hay không nhớ chính xác nghĩa gốc của nó. Khi đó phải lật đi lật lại, thực mất thời gian =”=, vì vậy lập 1 bảng chú giải để thuận tiện ghi nhớ cho đỡ tốn công mất sức.
Còn cái tên, uầy, vì không muốn làm ra thứ hoa mĩ gì nên bợn đặt bừa thôi mà

Bảng chú thích được lập ra với các mục đích sau:

  • Để người lập(là ta, là ta a) nhớ các thành ngữ, các từ ngữ đặc biệt, khỏi mất công tìm kiếm và cũng để lưu giữ.
  • Để các editor khác có thể tra cứu, tìm kiếm.
  • Để người đọc có chỗ nào không hiểu mà editor không giải thik có thể tự tìm kiếm để đọc hiểu truyện hơn.
  • Để ...(lí do mọi người tự nghĩ đi, ko gian thoải mái phát triển, muốn xào nấu cái bảng chú thích này thành cái gì cũng được, miễn chỉ cần nhớ là do ta làm là được a)


Các thứ ở đây được tớ tổng hợp từ nhiều nguồn, hi vọng sẽ giúp ích được mọi người trong quá trình edit và dịch truyện.

Vậy là xong phần mở màn, bi giờ bắt đầu vào mục chính^^~
Các tình yêu để tiết kiệm thời gian, khỏi tìm kiếm thủ công hãy dùng đến công cụ Ctrl+F để tìm nhé
Chỗ nào sai sót rất mong mọi người chỉ bảo và bổ sung giùm, thank you!
Quên, còn nữa, bạn không xếp theo A, B, C đâu, thế nên trùng hay thiếu hãy bảo bạn nhé^_^

●๋•TỪ VIẾT TẮT●๋•

[1]419: Viết tắt của “for one night” nghĩa là tình một đêm. Có cách đọc đồng âm khác nghĩa trong tiếng Anh.

[2]555: hu hu hu…(ngôn ngữ mạng)

[3]BL: Boy-love(tức chỉ tình yêu đồng tính giữa nam và nam)

[4]88: bye bye (tạm biệt)

[5]JQ: Gian tình

[6]JS:Gian thương

[7]JP: Tuyệt phẩm.

[8]MB: Money boy, ý chỉ ngưu lang(trai bao đó mọi người). Cũng có nghĩa khác là một từ chửi bậy.

[9]orz: biểu tượng người quỳ gối chống hai tay(nhìn ngang sẽ ra đó.)

[10]QJ: Cưỡng gian

[11]TMD: một từ chửi tục(con mẹ nó)

[12]TNND: một từ chửi tục khác(con bà nó).
Bạn thấy nó chả khác nhau mấy =.=

[13]YD: Dâm đãng

[14]YY: Ý dâm, hoang tưởng, tự sướng, tùy trường hợp mà có nghĩa khác nhau.

[15]PIA: Đá đi, đá bay đi.

●๋•THÀNH NGỮ●๋•

[01] Bệnh tòng khẩu nhập, Họa tòng khẩu xuất: Bệnh từ miệng mà vào, họa từ miệng mà ra.

[02] Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy: Một lời đã định, bốn ngựa cũng không thể kịp theo.

Câu này gần giống với “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy”, chúng ta cũng thường thấy nhất là nó. Có nghĩa là: Một lời của người quân tử, bốn ngựa cũng không thể theo.

[03] Tửu bất mê nhân, nhân tự mê: Rượu không làm mê người, chính người tự mê rượu.

[04] Thiên kim dị đắc, hảo ngữ nan tầm: Ngàn vàng dễ có được, lời tốt rất khó cầu.

[05] Nhân từ giả thọ, hung bạo gia vong: Nhân từ được sống lâu, hung tàn sẽ chết sớm.

[06] Thanh giả tự thanh, tục giả tự tục: Trong sạch tự mình biết, ô uế tự mình hay.

[07] Tri túc thường lạc, đa tham tắc ưu: Biết đủ lúc nào cũng vui, càng tham thì càng nhiều ưu lo.
Câu này ý muốn nhắc nhở mọi người làm gì cũng nên có điểm dừng, ko nên quá mê muội, sa đọa mà lún vào.

[08] Tham tâm hại kỷ, lợi khẩu tổn thân: Tâm tham làm hại mình, nói nhiều làm tổn đến thân.
Câu này khuyên người ta nên biết giữ mồm giữ miệng.

[09] Thủ khẩu như bình, phòng ý như thành: Giữ miệng như giữ bình, phòng ý như quân giữ thành.

[10] Quả ngôn trạch giao, khả vô hối lận: Nên ít nói, chọn bạn mà chơi thì không bao giờ hối tiếc.

[11] Thiệt nhu thường khẩu, xỉ chiết vị cương: Lưỡi mền nên còn hoài, răng gãy vì cứng cỏi.
Câu này có ý “Lấy nhu đánh cương”, mềm mỏng thay cứng rắn.

[12] Sự tiểu bất nhẫn, tắc loạn đại mưu: Điều nhỏ không nhịn được sẽ làm hư việc lớn.

[13] Sanh sự sự sanh, tỉnh sự sự tỉnh: Sinh ra việc thì việc sinh, bớt được việc thì việc bớt.
Câu này bạn cũng ko hiểu lắm, có lẽ đại ý là bớt được việc nào hay việc ấy, việc ko tự nhiên sinh ra cho người làm.

[14] Nhẫn đác nhất thời, an bình bá nhật: Một lúc nhẫn nhịn được thì bình an mãi sau này.
Hay giống dân ta thường nói là “một điều nhịn bằng chín điều lành” đấy.

[15] Sỉ tồn tâm tồn, sỉ vong tâm vong: Biết hổ thẹn tâm còn, không biết hổ thẹn tâm mất.

[16] Thắng nhân giả lực, tự thắng giả cường: Thắng người là sức mạnh bên ngoài, thắng mình mới là sức mạnh nội tâm.
Câu này đề cao sức mạng ý chí và nghị lực của bản thân con người.

[17] Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư: Ta và hai người cùng đi, thế nào cũng có một người là thầy ta.
(Bạn ko hiểu, vì sao ta lại ko phải thầy người???)
Đùa thôi, câu này ý bảo việc luôn luôn học hỏi, tiếp thu từ những người xung quanh, đề cao sự khiêm tốn, ham học của con người.

[18] Quá nhi bất cải, thị vi quá đại: Biết lỗi mà không chịu sửa, đó mới là lỗi to.

[19] Nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn táng bang: Một lời khiến nước thịnh, mà một lời cũng có thể khiến nước vong(mất nước.)

[20] Ngôn bất khả dĩ bất thận: Lời nói không thể coi thường nên phải cẩn thận trong lời ăn tiếng nói.

[21] Danh bất hư truyền: Tiếng tăm, danh tiếng truyền xa, không phải là lời đồn mà đó còn là sự thật.

[22] Thần hồ kỳ kỹ:
– nguyên gốc: 神乎其技
– Thần : Thần kỳ khó lường ; Kỹ : Kỹ nghệ. Miêu tả kỹ nghệ hay thủ pháp [phương pháp, thủ đoạn] hết sức cao minh.
– Là thành ngữ cổ đại.
– Xuất xứ : Thanh · Ngô Nghiễn Nhân 《 Nhị Thập Niên Mục Đổ Chi Quái Hiện Trạng 》 hồi thứ 31 : “Hắn chỉ có cách lừa vàng bạc này, mọi người lại vui vẻ bằng lòng bị hắn lừa, đây mới là thần hồ kỳ kỹ !”
Theo Phong Nhã Lâu.

[23] Âm dương quái khí: Chỉ lời lẽ, cử chỉ, hành động quái dị, khác với người thường hoặc khác với bộ dạng lúc bình thường, thái độ thiếu chân thực.

[24] Kỳ hoa dị thảo: Những loài hoa cỏ kì lạ, hiếm thấy trên thế gian.

[25] Hồng nhan bạc mênh: Chỉ người con gái đẹp có số phận bạc bẽo, thê lương(như nàng Kiều ấy!). Trong nhiều trường hợp, “má hồng” cũng được hiểu là người con gái có dung mạo đẹp.

[26] Lê hoa đái vũ: Hoa lê tắm mình trong mưa. Cụm từ này bắt nguồn từ dáng vẻ khi khóc của Dương Quý Phi. Sau được phát triển lên thành dáng vẻ của một người con gái đẹp khi rơi nước mắt, khiến người ta động lòng.
Thành ngữ này hay dùng trong ngôn tình cổ đại.

[27] Ủy khúc cầu toàn:
– nguyên văn: 委曲求全
– “Uỷ khúc” [委曲] là “uốn lượn; uyển chuyển; quanh co;”, “cầu toàn” [求全] có thể tạm hiểu là “mưu cầu sự hoàn hảo”, “đạt được mục đích”,v.v… (Theo QuickTranslator)
Miễn cưỡng nhân nhượng người khác, hòng để bảo toàn (giữ tròn, duy trì,v.v…). Cũng chỉ vì lấy đại cục làm trọng mà nhượng bộ.
Theo Phong Nhã Lâu.

[28] Vô huyết vô lệ: Không máu, không nước mắt.
Chỉ kẻ vô lương tâm, ko có nhân tính.

[29] Nguyệt hắc phong cao:
– nguyên gốc: 月黑风高
– Vốn là “Đêm trăng mờ giết người, ngày gió cao phóng hoả.” [月黑杀人夜, 风高放火天.].
Chỉ hoàn cảnh hiểm ác (thường là buổi tối)
Theo Phong Nhã Lâu.
Cụm từ này theo bạn Momo thấy thường xuất hiện để chỉ hoàn cảnh mờ ám, khiến người khác có linh cảm không hay~~~

[30] Gian phu dâm phụ: Chỉ người con trai gian díu với một người con gái khác, hai người đều bỏ qua lễ tiết tôn giáo, trật từ lẽ thường mà thông dâm cùng nhau.

[31] Thiên la địa võng: Chỉ vòng vây thiết lập khắp nơi, bốn phương tám hướng, khiến kẻ lọt vào khó lòng mà trốn thoát.

[32] Thủ hạ lưu tình: Vì tình nghĩa mà khoan hồng vào lúc hành quyết.
Một cụm từ mà các nàng hay gặp khác chính là “Hạ thủ lưu tình”, nhiều người hay nhầm lần hai cụm này với nhau vì khá giống hoặc cho rằng “Hạ thủ lưu tình” mới là đúng. Vì “thủ” tức là tay, ra tay thì phải là “Hạ thủ”, còn “Thủ hạ” thì nghe qua như là “cấp dưới của mình”. Trên thực tế ,”Hạ thủ lưu tình” được cho là thành ngữ Hán- Việt diễn đạt không chuẩn, luận theo nghĩa từ sẽ ra thành một cụm hoàn toàn trái ngược: “Hành quyết (hạ thủ) mà lại khoan hồng vì tình (lưu tình).”

[33] Hạ thủ lưu tình: Hành quyết (hạ thủ) mà lại khoan hồng vì tình (lưu tình)
Đã giải thích bên trên, mong mọi người đã hiểu^^~

[34] Đức cao vọng trọng: Chỉ người có đạo đức, uy tín cũng như địa vị cao trong xã hội. Trên thực tế, ngày nay, bợn thấy cụm này dùng để chỉ những người có danh vọng cao mới đúng, còn đạo đức hay uy tín thì còn cần xem xét à.

[35] Linh đan diệu dược: Chỉ những vị thuốc thần kỳ có tác dụng chữa được bách bệnh, hoặc những căn bệnh khó chữa trị.
“Đan” là để chỉ thuốc dạng viên.

[36] Thúc thủ vô sách: Bó tay, không có cách nào giải quyết.

[37] Danh phù kỳ thực: Tương đương với “Danh phó kì thực”, có nghĩa là danh tiếng hoặc tiếng tăm xứng với thực tế, đúng với lời người ta nói.

[38] Thế ngoại đào nguyên(世外桃源): Chỉ nơi tiên cảnh, bồng lai, đẹp đẽ vô cùng. Ngoài ra, người ta cũng dùng cụm này để chỉ những người ở ẩn.
Ông Ðào Tiềm 陶潛 có bài ký gọi là “Đào hoa nguyên ký” (桃花源記)nói về sự người Tần chán đời, vì thế ngày nay mới gọi người ở ẩn là thế ngoại đào nguyên .

[39] Môn tường đào lý(門牆桃李): Ông Ðịch Nhân Kiệt( 狄仁傑 )hay tiến cử người hiền, nên đời khen là đào lý tại công môn 桃李在公門 nghĩa là người hiền đều ở cửa ông ấy cả. Nay gọi các kẻ môn hạ là” môn tường đào lý” là do nghĩa ấy (Hán Việt tự điển, Thiều Chửu).

[40] Trí giả nhạo thuỷ, nhân giả nhạo sơn(知者樂水,仁者樂山): Một câu nói của Khổng Tử, có nghĩa là người trí thích nước, kẻ nhân thích núi. Ðạo cậy về nhân (như chân núi vững chắc), lòng người khó tin (như mặt nước phẳng lặng).

[41] Đào hoa khinh bạc(桃花輕薄): Câu nói của cổ nhân, ý chỉ con gái bất trinh là đào hoa, cụm từ số đào hoa cũng từ đó mà ra.

[42] Thủ chu đãi thố(守株待兔): Ôm cây đợi thỏ.
Chu tức là gốc cây, cây ở trên đất. Tống Ðiền Phủ thấy con thỏ dập đầu vào gốc cây mà chết, mới nghỉ cầy canh giữ gốc cây mong lại được thỏ đến nữa, vì thế nên những kẻ giữ chết một ý kiến của mình gọi là “thủ chu đãi thỏ”.
Câu thành ngữ “Ôm cây đợi thỏ” ví cho người chỉ biết căn cứ vào kinh nghiệm hữu hạn của mình trong quá khứ mà không chịu thay đổi cải tiến, hoặc ví cho người tối ngày chỉ mơ tưởng ảo huyền mà không lo làm việc thì tìm đâu ra thành quả như ý.
Tức là: Muốn có công việc tốt thì tự mình phải đi tìm, nếu cứ ngồi ở nhà chờ đợi thì làm sao có được công việc như ý.

[43] Triêu tam mộ tứ (朝三暮四): Sáng ba chiều bốn.
Tương truyền vào thời Chiến Quốc có một ông lão rất thích nuôi khỉ, ông nuôi một đàn thật đông. Vì mỗi ngày đều tiếp xúc với khỉ, do đó ông hiểu được tính tình của chúng, chúng cũng hiểu được lời nói của ông.
Lương thực cho khỉ ăn mỗi ngày rất nhiều, lâu ngày như thế, ông cảm thấy không nuôi nổi đàn khỉ nữa, nhưng nếu giảm thức ăn thì sợ chúng không vui, suy đi nghĩ lại, ông bèn nghĩ ra một kế rất hay.
Một hôm ông nói với đàn khỉ: “ Tao rất thích chúng mày, nhưng chúng mày ăn nhiều quá, trong khi tuổi tao đã lớn, lại không làm ra tiền, nên bắt đầu từ mai tao sẽ giảm bớt thức ăn của bọn bây, mỗi ngày buổi sáng chỉ cho mỗi đứa ba hạt dẻ, buổi chiều bốn hạt”
Bầy khỉ vừa nghe ông nói giảm bớt thức ăn thì đứa nào cũng trở nên buồn bã, phản đối ầm lên. Ông lập tức hạ giọng: “Thôi được, thôi được, như vầy nhé, buổi sáng tao cho mỗi đứa bốn hạt, buổi chiều ba hạt, như vậy được chưa?” Đàn khỉ vừa nghe buổi sáng được thêm một hạt dẻ, chúng hớn hở nhảy loạn cả lên.
Câu Thành ngữ “Sáng ba chiều bốn” được dùng ví cho một người luôn thay đổi chủ ý, khiến cho người khác không thể tin tưởng được, hoặc người chuyên dùng lời lừa dối để đi dối gạt người khác.

[44] Vô căn chi ngôn(無根之言): lời nói không có bằng chứng, ko có căn cứ xác thực.

[45] Bất hành nhi hành (不行而行): Không làm nhưng vẫn làm.
Một câu nói thường được dùng trong Thiền tông để chỉ những hành động không có tác ý, không để lại dấu vết gì trong tâm của người làm.
Bất hành nhi hành là một cách làm không có sự tính toán trước – ta có thể dùng từ “tuỳ cơ ứng biến” – nhưng lúc nào cũng phù hợp với thời điểm, lúc nào cũng đúng.
Theo Wikipedia.
[46] Tang trung chi ước(桑中之約): Kẻ dâm đãng, tùy tiện.
“Tang” tức là cây dâu, lá dùng để chăn tằm(Cây dâu ta đó, ko phải dâu tây đâu nha^^~). Trong Kiều từng có đoạn “Trên dâu dưới bộc”, ý chỉ kiểu như “Trai trên gái dưới”, làm chuyện mờ ám, dâm tục, không xứng với lẽ thường.
Cũng thế nên có câu:

“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
(Trích Truyện Kiều- Nguyễn Du)

[47] Duy tang dữ tử, tất cung kính chỉ (惟桑與梓,必恭敬止): bụi cây dâu cùng cây tử, ắt cung kính vậy. Tức là “Cây do cha mẹ trồng cần phải trân trọng.”
Câu nói này ở trong Kinh Thi. “Tang” ở đây được hiểu là “tang tử”, tức quê nhà.

[48] Tang du mộ cảnh (桑榆暮景): Bóng ngả cành dâu, ý chỉ người đã tuổi già sức yếu.

[49] Tiểu xú khiêu lương (小醜跳梁): chỉ giặc cỏ.
Cụm từ này xuất phát từ “Lục lương”(陸梁), tức là chạy tán loạn.

[50] Phong bất minh điều(風不鳴條): bình yên như gió lặng chẳng rung cành.
Chỉ cuộc sống thái bình, dân an cư lạc nghiệp.

[51] Không biết trong hồ lô bán loại thuốc gì(不知葫芦里卖的什么药): Không biết anh ấy / cô ấy / họ đang nghĩ gì.
Một thành ngữ Trung Quốc thường dùng để chỉ ý nói không hiểu người kia nói thế có ý gì.

[52] Hồ lô trộn cà tím (葫芦搅茄子): Vàng thau lẫn lộn, thị phi lẫn lộn.
Trong câu này, hồ lô mang ý nghĩa tích cực, cà tím mang ý nghĩa tiêu cực.

[53] Nhất hồ thiên địa(一壶天地): Chiếc hồ lô chứa cả vũ trụ.

[54] Vẽ cái gáo theo hình hồ lô(照着葫芦画瓢) hoặc Theo hình mà vẽ hồ lô(依样画葫芦): Mô phỏng đơn giản một điều gì đó, một thứ gì đó.

[55] Đông nói hồ lô tây nói gáo(东指葫芦西指瓢): Ý chỉ kẻ huyên thuyên bất tận, nói nhiều.

[56] Đè hồ lô xuống thì gáo nổi lên(按下葫芦瓢起来): Việc này chưa xong việc khác đã tới.

[57] Cưỡi trên chiếc hồ lô mà đầu óc hỗn độn(骑着葫芦头乱转转): Chủ ý bất định.
Ý chỉ đang rối rắm, không biết nên làm theo cách nào.

[58] Chỉ chiếc hồ lô ấy mà đầu nảy ra vàng(指着那个葫芦头开金): Ý chỉ việc dựa dẫm vào ai đó để làm một việc gì đó.

[59] Điện quang thạch hoả (电光石火)hay “Điện quang hoả thạch” (电光火石) : Là chỉ, ánh sáng của tia chớp, lửa của đá lấy lửa. Vốn là từ của Phật gia, chỉ sự vật đến rồi đi trong chớp mắt. Hiện nay được dùng để miêu tả sự vật biến mất trong nháy mắt giống như tia chớp cùng lửa của đá lấy lửa. Cũng được dùng để chỉ hành động nhanh chóng, ra tay trước hạn định. (Theo Baidu)

[60] Tiểu biệt thắng tân hôn (小别胜新婚) : Vợ chồng son nếu vì công tác hoặc là có chút chuyện mà phải xa nhau vài ngày, tới lúc gặp lại, tình cảm càng thêm ngọt ngào (Gặp lại nhau sau một thời gian xa cách, cảm giác tựa như mới kết hôn).

[61] Thần lai chi bút (飞扬跋扈): Tác phẩm được thần linh hỗ trợ viết (hoặc vẽ) ra. Miêu tả tác phẩm, câu chữ đặc sắc.

[62] Lục thần vô chủ (六神无主) : Lục thần không có chủ. Theo Đạo gia, lục thần của cơ thể người gồm tim, gan, phổi, thận, tỳ, mật. Tạm hiểu là “mất bình tĩnh; hoang mang lo sợ; không làm chủ được tinh thần”.
Theo Phong Nhã Lâu.

[63] Hoa ngôn xảo ngữ (花言巧语) : “Hoa” (花) : (Làm cho) hoa mắt, lừa đảo ; “Ngôn” (言) : Lời ; “Xảo” (巧) : Khéo léo, giả dối ; “Ngữ” (语) : Tiếng. Tạm hiểu : “Lời lừa tiếng dối”, theo QuickTranslator thì còn là “lời ngon tiếng ngọt; lời đường mật; nói ngọt như mía lùi; lời ngon ngọt; nói ngon nói ngọt”.
Theo Phong Nhã Lâu.

[64] Phong thanh hạc lệ (风声鹤唳) : Tiếng rên rỉ của gió cùng tiếng kêu của hạc. Một cảm giác thấy thoáng qua về sự nguy hiểm trong những tiếng nhỏ nhất. Miêu tả hoảng hốt lo sợ, hay tự mình sợ hãi lo buồn.

[65] Đắc thiên độc hậu(得天独厚): được trời ưu ái; gặp may mắn; thiên nhiên ưu đãi; có vị trí, hoàn cảnh rất tốt.

[66] Độc thiện kỳ nhân(独善其身): Có hai ý nghĩ.
Trong hoàn cảnh xấu vẫn giữ vững phẩm cách của mình
Chỉ lo thân mình (mặc kệ kẻ khác).

[67] Ảm nhiên thất sắc(黯然失色): Ảm nhiên tức là trong lòng khó chịu, tâm tình suy sụp. Thất sắc tức là biến sắc vì kinh sợ. Ý chỉ sự không thoải mái, khó chịu trong lòng và biểu thị ra cả bên ngoài.

[68] Bất tri sở vị (不知所谓): Làm việc vô vị; không có quy tắc; không ra gì | Không quan tâm; không đáng nói đến | Không biết có ý tứ gì; không biết nói đến cái gì

[69] Bất thanh bất hàng(不声不吭): Im hơi lặng tiếng

[70] Bát quái (八卦): lắm mồm, nhiều chuyện, ở đâu cũng nói linh tinh

[71] Bất y bất nhiêu(不依不饶): không được như ý thì dây dưa không bỏ | không vừa lòng không buông tha.

[72] Chiến vô bất thắng, công vô bất thủ (战无不胜, 攻无不取): không có tiến công nào không được, không có trận chiến nào không thắng | bách chiến bách thắng; hễ đánh là thắng; đánh đâu thắng đó

[73] Giá khinh tựu thục(驾轻就熟): xe nhạy nhanh vì quen đường.
Chỉ việc rất quen thuộc, thành thạo với cái gì đó hoặc quen tay hay làm, quen việc dễ làm, kinh nghiệm đầy mình.

[74] Hải lãng kinh đào(骇浪惊涛) hay Kinh đào hải lãng (惊涛骇浪) : sóng to gió lớn. Chỉ hoàn cảnh ác liệt hay việc phải trải qua những chuyện phức tạp khó khăn.

[75] Hàm thái khả cúc(憨态可掬): ngây thơ khả ái, khờ khạo đáng yêu, ngây ngô hồn nhiên.

[76] Hỉ xuất vọng ngoại(喜出望外): gặp chuyện vui bất ngờ nên vô cùng cao hứng, mừng rỡ vô cùng, vui sướng ngây ngất, vui mừng quá đỗi, mừng không kể xiết.

[77] Hồ thiên hải địa(胡天海地): ra sức/mặc sức tán dóc

[78] Hoàng kim ốc(黄金屋): căn nhà(phòng) bảo vật hay bằng vàng, chỉ cuộc sống vinh hoa phú quý.

[79] Hủ mộc bất khả điêu(朽木不可雕): gỗ mục không thể điêu khắc được, chỉ những kẻ năng lực kém, trình độ thấp, không có thành tựu, không ra đời lăn lộn kiếm sống được.

[80] Hạ bất liễu thai(下不了台) hay Hạ bất lai thai(下不来台): không xuống đài được. Chỉ người đang trong hoàn cảnh khó xử, không kết thúc được, không biết xử lý thế nào (như tiến thoái lưỡng nan)

[81] Hoàng chung hủy khí, ngõa phủ lôi minh(黄钟毁弃, 瓦釜雷鸣): chuông vàng bỏ phế, nồi đất kêu vang.
Người tài đức thì bị bỏ qua, không được trọng dụng, kẻ tầm thường lại được nâng cao.

[82] Huyền nhi vị quyết(悬而未决): vẫn luôn để đó, không giải quyết được.

[83] Khinh miêu đạm tả(轻描淡写): Chỉ màu sắc nhạt; nhẹ nhàng| Qua loa, sơ sài, hời hợt (nói, viết) | Làm việc không tốn sức.

[84] Lão Hổ Dã Hữu Đả Truân(老虎也有打盹): Con cọp cũng có lúc ngủ gật. Ý nói người rất có bản lãnh cũng có lúc sơ ý, nhắc nhở phải luôn luôn cẩn thận nếu không sẽ phạm sai lầm.

[85] Long hành hổ bộ(龙行虎步): mô tả dáng vẻ hơn hẳn người thường của bậc đế vương, bậc tướng lĩnh hoặc chỉ người có dáng vẻ hiên ngang, diện mạo oai hùng.

[86] Lợi dục huân tâm(利欲熏心): Lợi ích là trên hết, chỉ những kẻ tối mắt vì lợi, vàng đỏ nhọ lòng son, hám lợi đen lòng.

[87] Minh châu ám đầu(明珠暗投): Ngọc sáng vứt chỗ tối, người tài giỏi không được trọng dụng, người tài chọn nhầm chủ.

[88] Ngân trang tố khỏa(银装素裹): miêu tả thế giới tuyết phủ trắng xóa, không chút sặc sỡ, vô cùng tinh khiết.

[89] Ngữ kinh tứ tọa(语惊四座): lời nói ra làm người xung quanh kinh ngạc, ý chỉ một người tài hoa, ăn nói gây kinh ngạc.

[90] Ngoại tiêu lý nộn (外焦里嫩): 1. Bên ngoài vàng giòn, bên trong mềm mại (nấu nướng) | 2. Gặp một việc rất ngạc nhiên, rất kinh ngạc, dâng trào cảm xúc.

[91] Niêm hoa vi tiếu(拈花微笑) hay Niêm hoa nhất tiếu(拈花一笑): Ăn ,; tâm ý tương thông, ý hợp tâm đầu. Cũng có ý chỉ Phật giáo.

[92] Nhàn ngôn toái ngữ(闲言碎语): 1. Không bằng lòng, không thỏa mãn, không căn cứ (lời nói) | 2. Những lời nói không quan hệ tới việc chính, nói tào lao, nói nhảm.

[93] Nhất bả thỉ nhất bả niệu (一把屎一把尿): một tay bón phân một tay nước tiểu, ý nói quá trình nuôi nấng con cái khôn lớn rất cực khổ, khó khăn, chăm sóc từng chút một từ khi còn nhỏ giống như đang trồng cây vậy.

[94] Phiêu phiêu dương dương(飘飘扬扬): phất phơ tung bay, lay động trong không trung.

[95] Thỏ tử bất cật oa biên thảo(兔子不吃窝边草): Thỏ không ăn cỏ gần hang, ý nói đừng làm chuyện xấu trước cửa nhà mình, không gây chuyện với hàng xóm láng giềng, cũng để chỉ kẻ xấu không làm chuyện xấu ngay tại địa phương.

[96] Thiên lý tống nga mao (千里送鹅毛): vượt ngàn dặm tặng lông ngỗng, ngầm chỉ tình nghĩa nặng hơn lễ vật, lễ vật nhỏ nhưng gửi gắm tình nghĩa lớn.

[97] Truy bản tố nguyên (追本溯源): truy tìm nguồn gốc/truy tìm căn nguyên.

[98] Tâm viên ý mã(心猿意马): Tâm như con khỉ, ý như con ngựa. Chỉ những người có tư tưởng, tâm tình không khống chế được, suy nghĩ lung tung, sớm nắng chiều mưa, thất thường, nghĩ đông nghĩ tây, tâm phiền ý loạn.

[99] Thủy đáo cừ thành(水到渠成): nước chảy thành sông, ý nói thời cơ chín muồi, sự tình ắt sẽ thành công, bỏ công làm sẽ có thành quả, trồng cây hái quả.

[100] Thủy tính dương hoa(水性杨花): dễ dàng thay đổi như dòng nước, lả lướt nhẹ nhàng như hoa dương, chỉ nữ giới tác phong tùy tiện hay tình cảm không chuyên nhất.

[101] Sát ngôn quan sắc: Sát: Xét, quan sát. Ngôn: lời nói. Quan: xem xét. Sắc: sắc mặt. Sát ngôn quan sắc là xét lời nói và xem sắc mặt thì có thể biết được tâm ý của người.

[102] Ngũ phúc lâm môn(五福臨門): Năm điều may mắn tới nhà.
Đây là câu chúc tụng mà người Tàu thường dùng để chúc người cất nhà mới, ăn lễ Tân gia. Một là Thọ (sống lâu), hai là Phú (giàu), ba là Khang ninh (mạnh khỏe, an vui), bốn là Du hảo đức (yêu chuộng cái đức), năm là Khảo chung mệnh (chết già được trọn đời).
Đó là theo Kinh Thư. Ngoài ra, người ta còn nói: Ngũ phúc gồm Phú, Quí, Thọ, Khang, Ninh.

[103] Ngũ thập nhi tri Thiên mệnh(五十而知天命): 50 tuổi mới biết được mệnh Trời.

[104] Ngụ đạo ư văn(寓道於文): Gởi đạo lý vào trong văn chương, nghĩa là dùng văn chương để diễn đạt đạo lý. Thành ngữ này đồng nghĩa với “Văn dĩ tải đạo”, tức là dùng văn chương để chở đạo lý.

[105] Ngụy bất yểm chân(偽不掩眞): Ngụy: Giả dối, xảo trá. Bất: không. Yểm: Che đậy. Chân: thật. Cái giả dối không che đậy được cái chân thật.

[106] Nguyên tội(原罪): Nguyên là gốc, vốn; tội là tội lỗi. Nguyên tội là tội lỗi của thủy tổ loài người.
Theo Thiên Chúa giáo, thủy tổ loài người là Ađam và Êva, vì ăn trái cấm nên phạm tội, bị Thượng Đế đày xuống trần gian, phải làm lụng khó khọc mới có cái ăn. Tội lỗi của Ađam và Êva, thủy tổ của loài người, được gọi là nguyên tội.

[107] Nguyệt minh hoa biểu(月明華表): Nguyệt là Mặt trăng, một tháng, hằng tháng. Minh: sáng. Hoa biểu: cái trụ đá có chạm hình bông sen trên đầu trụ, trồng xuống đất ở trước mộ.
Nguyệt minh hoa biểu là trăng soi trụ hoa trước mộ.

[108] Ngư thủy tương phùng(魚水相逢): Cá nước gặp nhau, ý nói người gặp vận tốt, vua tôi tương đắc.Con cá lên bờ thì không bơi lội được, chỉ chờ chết. Khi thả vào nước, con cá gặp môi trường thuận lợi của nó thì mặc sức vẫy vùng.
Thời Tam quốc, Lưu Bị ba lần đến thảo lư cầu Khổng Minh về làm Quân Sư. Trương Phi nhiều lần phản đối. Lưu Bị nói: “Cô đắc Khổng Minh do ngư chi đắc thủy.” Nghĩa là: Kẻ hèn nầy được Khổng Minh ví như con cá gặp được nước vậy.

[109] Ngư tiều canh mục(漁樵耕牧): Ngư là người câu cá. Tiều là ông đốn củi rừng. Canh là người cày ruộng. Mục là kẻ chăn trâu. Ngư tiều canh mục là 4 thú vui của người ẩn sĩ, gọi là Tứ thú: Câu cá, đốn củi rừng, cày ruộng, chăn trâu.
[110] Ngựa vàng-Thỏ ngọc: Ngựa vàng là dịch chữ Kim mã, chỉ mặt Trời. Thỏ ngọc là dịch chữ Ngọc thố, chỉ mặt trăng.
Trong văn chương, thi phú, người ta hay dùng hai từ ngữ: Ngựa vàng và Ngọc thố để chỉ mặt Trời và mặt trăng, vì ngựa và thỏ đều có đặc tính chạy nhanh, con này rượt con kia, hết ngày tới đêm, cũng có ý nói: thời gian đi qua rất mau.
Theo “Thánh Ngôn Hiệp Tuyển”:

Ngựa vàng ruổi vó thoi đưa sáng,
Thỏ ngọc trau gương đậm vẻ làu.

[111] Ngưu đầu mã diện(牛頭馬面): Đầu trâu mặt ngựa, chỉ bọn quỉ sứ nơi cõi Âm Phủ có hình thù kỳ dị, xấu xí.

[112] Ngạ quỉ vô thường(餓鬼無常): Ngạ quỉ là loài quỉ đói. Vô thường là không thường có như vậy, tức là luôn luôn biến hóa. Ngạ quỉ vô thường là loài quỉ đói có hình dạng luôn luôn biến hóa.
Theo Phật giáo, một hạng người có lòng dạ rất nhỏ nhen, keo kiệt bỏn xẻn, thấy người đói khát mà không động lòng giúp đỡ, đến khi chết, linh hồn bị đọa làm ngạ quỉ, có hình dáng gầy còm xấu xí, tóc rối bù, mình đầy lông lá, đặc biệt cái bụng to như cái trống, còn cái miệng thì nhỏ như lỗ kim, không ăn uống chi được, luôn luôn chịu đói khát rất khổ sở.
Ngạ quỉ là một hạng chúng sanh bị đọa trong tam ác đạo của Lục đạo luân hồi, nhưng bị đọa làm ngạ quỉ còn khá hơn là bị đọa vào địa ngục hay súc sanh, bởi vì, ngạ quỉ nếu biết nghe lời kinh mà tỉnh ngộ, hoặc được thân nhân cầu siêu thì ngạ quỉ thoát đọa, được đi tái kiếp làm người. Trái lại, nếu ngạ quỉ tiếp tục giữ tánh ác độc nóng giận thì họ sẽ bị đọa xuống cảnh thấp kém hơn nữa, tức là bị đọa vào địa ngục hay làm súc sanh.

[113] Ngang Thiên nghịch Địa(昂天逆地): Không chịu thua Trời, chống lại Đất. Ý nói: Người bướng bỉnh, làm việc táo bạo, không sợ quỉ thần gì cả.

[114] Nghi gia nghi thất(宜家宜室): Nghi: Nên, thích đáng. Gia: tiếng vợ gọi chồng. Thất: tiếng chồng gọi vợ. Gia thất là chỉ vợ chồng, việc lập gia đình. Tức là nên vợ nên chồng, xứng hợp nhau.

[115] Nghi vân tiêu tán(疑雲消散): Nghi vân tiêu tán là đám mây ngờ vực tiêu tan hết.

[116] Nghiên thạch thành sa(研石成沙): Nghiền đá thành cát.

[117] Tá hoa hiến Phật(借花獻佛): Có thể hiểu là mượn hoa dâng Phật. Tá hoa hiến Phật là mượn hoa của người khác dâng lên cúng Phật. Ý nói: Dùng của người này để lấy lòng người khác, giống như lấy xôi làng đãi ăn mày.

[118] Tạc tử kim sanh(昨死今生): Tạc: Hôm qua. Tử: chết. Kim: nay. Sinh: sống. Trước chết nay sống, trước nguy nay an.

[119] Tai vách mạch rừng: Vách có lỗ tai, rừng có đường thông. Ý nói: Phải cẩn thận khi nói chuyện bí mật vì có thể có người rình nghe ở ngoài vách, hay ở đường thông trong rừng.

[120] Tài mạng tương đố(才命相妒): Tài mạng tương đố là tài năng và số mạng thường hay ghen ghét nhau, đố kỵ nhau. Ý nói người có tài thì thường gặp vận xấu, còn kẻ ít tài thì thường gặp vận may.

[121] Tam sao thất bản(三抄失本): Tam sao thất bản là ba lần chép lại thì mất bản gốc. Ý nói mỗi lần chép lại một bài văn hay một cuốn sách, là mỗi lần có sai sót, đến khi chép lại ba lần thì sai hẳn với bản gốc ban đầu.

[122] Táng ngọc mai hương(葬玉埋香): Táng: Chôn. Ngọc: đẹp như ngọc. Mai: vùi trong đất, thường nói: Mai táng. Hương: thơm. Ngọc và hương chỉ người con gái đẹp.
Táng ngọc mai hương là chôn ngọc vùi hương, ý nói mồ mả của người con gái đẹp.

[123]

●๋•ĐIỂN TÍCH●๋•

[1]Đại thủy trôi miếu Long Vương: Tuy là người trong một nhà nhưng lại không thừa nhận quan hệ hoặc không muốn quen biết nhau, hoặc không biết đến nhau nên phát sinh hiểu lầm hoặc xung đột không nên có.
Truyền thuyết kể thật lâu trước kia bên bờ biển Đông Hải có một tòa miếu thờ Long Vương, cách không xa nơi đó là một khu đất trồng rau. Lão hòa thượng trong miếu và lão nhân nấu thức ăn là bạn tốt, thường xuyên chơi cờ tán gẫu.
Một hôm lão nhân thần bí nói vườn rau vốn trước đây chỉ do ông tưới nước, nhưng không hiểu sao từ hôm qua khi ông đến đã thấy rau được tưới đủ rồi. Lão hòa thượng nghe xong cũng thấy kì quái nên quyết định trộm đi xem. Đêm đó lão hòa thượng trốn cách vườn không xa, đột nhiên thấy một tia sáng trắng lóe lên, giống như có một con quái vật bay ra, nó giang đôi cánh lớn, nước giếng phun ra tưới ướt vườn rau. Liên tiếp ba ngày rồi đến ngày thứ tư, lão hòa thượng đem bảo kiếm theo chờ nó bay ra thì đâm một cái. Ầm một tiếng, trong chớp mắt cả vùng quanh miếu đều là đại dương mênh mông. Long vương giân dữ đem thủy binh đến giao chiến với quái vật. Sau mới biết ra nó là tam thái tử của Long vương, vì phạm luật nên bị đày ra Đông Hải chịu tội ba năm. Tam thái tử muốn lập công nên mới ở nhân gian làm chuyện tốt, không ngờ bị hòa thượng đâm kiếm nên mới tao thành hiểu lầm.

[2] Tái ông thất mã(塞翁失馬): Tái ông là ông già ở vùng biên giới giữa hai nước. Tái ông thất mã là ông già ở vùng biên giới mất ngựa.
Sách Hoài Nam Tử có chép một câu chuyện như sau:
“Một ông lão ở gần biên giới giáp với nước Hồ phía Bắc nước Tàu, gần Trường thành, có nuôi một con ngựa. Một hôm con của ông lão dẫn ngựa ra gần biên giới cho ăn cỏ, vì lơ đễnh nên con ngựa vọt chạy qua nước Hồ mất dạng. Những người trong xóm nghe tin đến chia buồn với ông lão.
Ông lão là người thông hiểu việc đời nên rất bình tỉnh nói: – Biết đâu con ngựa chạy mất ấy đem lại điều tốt cho tôi.
Vài tháng sau, con ngựa chạy mất ấy quay trở về, dẫn theo một con ngựa của nước Hồ, cao lớn và mạnh mẽ. Người trong xóm hay tin liền đến chúc mừng ông lão, và nhắc lại lời ông lão đã nói trước đây.
Ông lão không có vẻ gì vui mừng, nói: – Biết đâu việc được ngựa Hồ nầy sẽ dẫn đến tai họa cho tôi.
Con trai của ông lão rất thích cỡi ngựa, thấy con ngựa Hồ cao lớn mạnh mẽ thì thích lắm, liền nhảy lên lưng cỡi nó chạy đi. Con ngựa Hồ chưa thuần nết nên nhảy loạn lên. Có lần con ông lão không cẩn thận để ngựa Hồ hất xuống, té gãy xương đùi, khiến con ông lão bị què chân, tật nguyền.
Người trong xóm vội đến chia buồn với ông lão, thật không ngờ con ngựa không tốn tiền mua nầy lại gây ra tai họa cho con trai của ông lão như thế.
Ông lão thản nhiên nói: – Xin các vị chớ lo lắng cho tôi, con tôi bị ngã gãy chân, tuy bất hạnh đó, nhưng biết đâu nhờ họa nầy mà được phúc.
Một năm sau, nước Hồ kéo quân sang xâm lấn Trung nguyên. Các trai tráng trong vùng biên giới đều phải sung vào quân ngũ chống ngăn giặc Hồ. Quân Hồ thiện chiến, đánh tan đạo quân mới gọi nhập ngũ, các trai tráng đều tử trận, riêng con trai ông lão vì bị què chân nên miễn đi lính, được sống sót ở gia đình.”
Do đó, người đời sau lập ra thành ngữ: Tái ông thất mã, an tri họa phúc. Nghĩa là: ông lão ở biên giới mất ngựa, biết đâu là họa hay là phúc.
Hai điều họa phúc cứ xoay vần với nhau, khó biết được, nên khi được phước thì không nên quá vui mừng mà quên đề phòng cái họa sẽ đến; khi gặp điều họa thì cũng không nên quá buồn rầu đau khổ mà tổn hại tinh thần. Việc đời, hết may tới rủi, hết rủi tới may, nên bắt chước tái ông mà giữ sự thản nhiên trước những biến đổi thăng trầm trong cuộc sống.

[3] Tào khang chi thê(糟糠之妻): Tao khang hay Tào khang nghĩa đen là bã rượu và cám, đó là hai thức ăn dùng để nuôi heo, nhưng đối với người quá nghèo khổ thì họ dùng hai thức nầy ăn để sống. Do đó hai chữ Tào khang là để chỉ lúc nghèo khổ.
Tao khang chi thê hay Tào khang chi thê là người vợ lúc còn nghèo khổ, tức là người vợ tình nghĩa thuở ban đầu còn sống nghèo khổ với nhau.
Câu nói của ông Tống Hoằng “Tào khang chi thê bất khả hạ đường” nghĩa là: Người vợ lúc còn nghèo khổ không thể để ở nhà sau, ý nói không thể bỏ người vợ tình nghĩa thuở ban đầu nghèo khổ để cưới người vợ mới trẻ đẹp lúc giàu sang.
Xem thêm tại điển tích về Tống Hoằng.

●๋•MỘT SỐ TỪ KHÁC●๋•

—Chủ yếu ở đây để tra các từ convert khó hiểu, lỗi convert, không có convert cột hoặc bản tiếng trung để tra hoặc một số từ đặc trưng trong ngôn tình cần giải nghĩa—

[1]Đông qua: Quả bí đao

[2]Phiên gia: Quả cà chua.

[3]Mộc qua: Quả đu đủ.

[4]Nam qua: Quả bí đỏ

[5]Tây qua: Quả dưa hấu.

[6]Ô long: chuyện gây xấu hổ, dở khóc dở cười.
Mình nghĩ là vì nghĩa này mà mới có bộ truyện tên “Ô Long Viện” ah.

[7]Tính phúc: Độ cường hãn trong…quan hệ vợ chồng, chỉ chuyện XXX đấy mà.

[8]Bách hợp: Chỉ kẻ lessbian, tức là đồng tính nữ đó mà. Nam thì gọi là gay a.

[9]Nhân yêu: Người nam chơi nhân vật nữ trong game(võng du)

[10]Yêu nhân: Người nữ chơi nhân vật nam trong game(võng du)

[11]Tiểu tam: Người thứ ba, tức chỉ kẻ phá vỡ hạnh phúc gia đình người khác.

[12]Tín dụng tạp: Thẻ tín dụng, card.

[13]Ngưu lang: Như đã nói bên trên, đây là trai bao ạ.

[14]Mân côi: Hoa hồng.

[15]Khang nãi hinh: Hoa cẩm chướng.

[16]Các chia thời gian: một ngày có mười hai canh giờ, một canh giờ (2 giờ) có bốn khắc, một khắc (30 phút) có ba chén trà, một chén trà (10 phút) có hai nén hương, một nén hương (5 phút) có năm phút, một phút (60 giây) có 6 đạn chỉ(búng ngón tay), một đạn chỉ (10 giây) có mười sát na. Một sát na chính là một giây.
Tuy nhiên, với cách tính giờ hiện tại thì:
“nhất cá thì thần” = 1 giờ (60′)
“nhất khắc” = 15′

[17]Long Đoàn trà(龙团茶)/Long trà/Long bồi/Bàn Long trà: một loại trà dùng để triều cống. được ép thành hình cầu, trên có hoa văn rồng. Được sản xuất đầu tiên ở Phúc Kiến.

[18]Lưu huỳnh(流萤): đom đóm (bay lượn) | tại một số nơi như Hồng Kông, Đài Loan còn để ám chỉ “gái giang hồ”.

(còn tiếp).

48 thoughts on “.:.BẢNG CHÚ GIẢI CỦA MOMO.:.

  1. nàng ơi, cám ơn bảng chú giải này của nàng nhiều nhiều luôn
    tiện đây cho ta hỏi “rou” nghĩa là sao hả nàng >< trong bản convert nó cứ có mà ta không hiểu thế nào nữa

  2. bạn ơi, bạn có thể giải thích giúp mình câu này đc ko? hình như nó là 1 câu thành ngữ.
    ” giỏ trúc múc nước công dã tràng.” ( 竹篮打水一场空.)

    cảm ơn bạn nhiều ^_^

Các tình yêu mua hoa đi nào ♥_♥

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s